MỘT GIẤC MƠ NHƯ BAN ĐẦU – PHẦN 1


001.

Nhà ta rất nghèo, chỉ có ba mẫu đất khô cằn. Phụ thân ta chăm sóc ba mẫu đất ấy như chăm sóc tổ tiên, nhưng dù có chăm sóc tốt thế nào thì mỗi năm lương thực thu được cũng không đủ để nuôi sống cả nhà mười miệng ăn.

Tổ phụ và tổ mẫu của ta đã già, ba người thúc thúc tuy tuổi đã lớn nhưng vẫn chưa thành thân, mỗi ngày từ đầu làng phía đông lượn lờ đến cuối làng phía tây, chỉ biết nhàn rỗi ngồi bấm móng tay, thật sự là những kẻ lười biếng chính hiệu. Cô cô bằng tuổi ta, là đứa con quý như sinh mệnh của tổ phụ và tổ mẫu.

Năm ấy tuyết rơi lớn, nhà ta đã hết lương thực mấy ngày liền, cả nhà sắp chết đói đến nơi. Phụ thân ta đã đi làm thuê trong thành, có người môi giới đến làng, trả cho ta bốn lượng bạc, ta đã bán mình đi.

Ngày rời nhà, mẫu thân ta khóc đến ngất đi mấy lần, bà đưa cho ta chiếc trâm duy nhất làm của hồi môn. Trước mặt cả nhà, ta giữ lại hai lượng, còn lại lén đưa cho mẫu thân, dặn bà nhất định phải nuôi dưỡng đệ đệ và muội muội của ta.

Ngày đó tuyết rơi rất lớn, phụ thân ta đi làm thuê ở huyện thành vẫn chưa về, mẫu thân dắt đệ đệ và muội muội đứng giữa trời bão tuyết tiễn ta, trời lạnh như vậy, mẫu thân ta thậm chí không có một chiếc áo khoác.

Chiếc xe lừa kéo ta càng lúc càng xa, bão tuyết lớn quá làm mờ mắt ta.

Có mười hai thiếu nữ được bán cùng ta, tất cả đều từ làng ta và làng bên cạnh, tuổi tác cũng gần bằng ta. Dù bị bán đi, ít nhất mỗi ngày chúng ta được ăn no, những gia đình tàn nhẫn bán nữ nhi của mình, cuộc sống hằng ngày ở nhà chắc chắn không tốt đẹp gì.

Mỗi ngày họ ríu rít nói chuyện, còn ta chỉ lặng lẽ lắng nghe, không biết chúng ta sẽ bị bán đến đâu. Đường đi rất khó khăn, đi mãi hơn một tháng, khi đến Biện Kinh thì đã là mùa xuân.

Người môi giới nhốt chúng ta trong một cái sân nhỏ, ngày đầu tiên đã đưa năm thiếu nữ xinh đẹp nhất ra ngoài, vài ngày sau thì đưa nốt những người còn lại.

Ta bị bán vào Ôn gia ở phía Tây thành, nhà này có sân viện hai tầng, gia chủ nghe nói là một viên quan thất phẩm. Ta được phân vào viện của Nhị tiểu thư làm tỳ nữ, ngày thường quét sân và làm những việc vặt.

Ôn gia ít người, ngoài phu nhân thì chỉ có một vị thiếp, vị thiếp này lại là tỳ nữ hồi môn của phu nhân. Ba vị công tử đều do phu nhân sinh ra, nghe nói họ được gửi đến học viện rất nổi tiếng ở Sơn Tây để học, mỗi năm chỉ về nhà hai lần.

Ba vị công tử đều tuấn tú, nhưng tuấn tú nhất là Đại công tử, trông như tiên giáng trần. Đại tiểu thư cũng do phu nhân sinh ra, năm nay mười ba tuổi, nhìn có vẻ trầm tĩnh nhưng tính tình không tốt. Nhị tiểu thư do thiếp sinh, năm nay mới bảy tuổi, mũm mĩm trắng trẻo, như một búp bê phúc lộc, thích cười, trong nhà lại nhỏ tuổi nhất, có tật nên ai cũng cưng chiều.

Ôn gia không hà khắc với người hầu, ta đến đây một năm, béo lên nhiều, phu nhân còn cho mỗi người hầu chúng ta hai trăm văn tiền mỗi tháng, dịp lễ Tết còn có tiền thưởng. Ta âm thầm dành dụm số tiền này, mong sau này có cơ hội gửi về nhà.

Đối với ta, những ngày này mỗi ngày đều là ngày tốt, so với công việc ở nhà thì có gì khó đâu? Lúc rảnh ta học đan lưới, làm kim chỉ, trò chuyện với các tỷ muội khác.

Đại tiểu thư thích thơ sách, đại tỳ nữ Thời Họa tỷ tỷ bên cạnh cũng không kém, người lại thân thiện, không bao giờ keo kiệt, hễ có thời gian thì dạy chúng ta học chữ.

Một ngày nọ, nghe tin một trong những tỷ muội bị bán đến Biện Kinh cùng ta bị gia chủ đánh chết, ta mới biết mình may mắn, gặp được một gia đình tốt, cuộc sống quả thật như tiên.

Nhưng biến cố đến quá nhanh, năm ta mười bốn tuổi, gia chủ không biết phạm tội gì, Ôn gia bị tịch thu gia sản, cả nam lẫn nữ trên mười lăm tuổi đều bị giam vào ngục tử, trừ Đại tiểu thư đã xuất giá được miễn liên quan. Đêm trước khi bị tịch thu, phu nhân đã trả lại tất cả giấy bán thân và cho mỗi người mười lượng bạc, thả tự do cho tất cả người hầu và tỳ nữ. Sau sự việc đó, người hầu trong Ôn gia phần lớn là mới mua, trong một đêm tan tác hết.

Ta cầm số tiền tích cóp được trong mấy năm qua, chuẩn bị về làng, nhưng nhìn Nhị tiểu thư đã chín tuổi mà vẫn ngây ngô, cuối cùng ta không nỡ. Ôn gia đã bị tịch thu, ta và Nhị tiểu thư không còn chỗ ở, cũng không thể gọi là Kiều Nương như trước nữa, ta đặt cho muội ấy một cái tên mới, gọi là Bảo Châu. Từ giờ nhị tiểu thư sẽ là muội muội của ta, ta là Bảo Ngân, Trần Bảo Ngân.

Người Ôn gia bị giam trong ngục tử, số tiền ta có dù dốc hết ra cũng không chắc gặp được họ một lần, ta phải dẫn Bảo Châu sống tiếp, muốn sống thì phải ăn, phải có chỗ ở.

Ta khỏe mạnh, cũng không sợ khổ, mấy năm nay biết được vài chữ, còn có thể tính toán sổ sách. Ta thuê một chiếc thuyền nhỏ, bắt đầu làm nghề bán rượu trên sông Biện, bán rượu tất nhiên phải có món nhắm, mùa hè và mùa thu thì ta bán tôm say, cua say, mùa đông thì làm một vài món ăn ấm bụng. Năm đầu tiên sau khi trừ tiền thuê, ta đã kiếm được ba mươi bảy lượng bạc.

Chuyện của Ôn gia ban đầu rất rầm rộ, tưởng như ngay lập tức sẽ bị hành hình, nhưng một năm trôi qua mà vẫn không có động tĩnh gì.

Ta đã may một bộ quần áo bông, mang theo rượu và đồ ăn, cùng Bảo Châu đi thăm phụ mẫu, các huynh và di nương của cô bé. Bảo Châu vui mừng mặc bộ áo bông đỏ mới mà ta may cho, nắm tay ta và vui vẻ lắc qua lắc lại.

Trong ngục giờ đây không còn nghiêm ngặt như năm ngoái nữa, ta dùng hai lượng bạc để tên cai ngục cho ta và Bảo Châu vào thăm.

Bên trong ngục tối tăm, mùi hôi thối khó chịu, Bảo Châu nhát gan, nắm chặt tay ta, đôi mắt lo lắng như con thỏ lạc đường. Ta vỗ tay muội ấy an ủi: “Không sao đâu, có tỷ đây mà!” Bảo Châu liền cười nhẹ, hai lúm đồng tiền nhỏ xinh hiện lên ở khóe miệng.

Cả gia đình họ Ôn bị nhốt chung một chỗ, ta không còn nhận ra dáng vẻ của phu nhân, lão gia và di nương nữa, họ đã gầy đen đến mức không còn giống con người. Trong ba công tử của nhà, chỉ còn lại hai người, không thấy Đại công tử đâu. Ta chỉ gặp họ ba bốn lần trước đây, tuổi tác cũng chỉ cách nhau một hai năm, giờ gặp lại cũng không biết ai là ai. Người thiếu vắng kia không biết rốt cuộc đã đi đâu.

Tên cai ngục mở cửa, cho chúng ta nửa canh giờ. Góc tường có trải rơm, chắc là chỗ họ ngủ hàng ngày. Bảo Châu nhìn phụ mẫu mà muội ấy luôn mong nhớ nhưng không nhận ra được họ nữa. Tuy vậy, người nhà Ôn gia vẫn nhận ra, nhìn Bảo Châu đang nấp sau lưng ta, thò đầu ra nhưng không dám bước lên, lão gia mãi mới gọi một tiếng “Kiều Nương.”

Muội ấy vẫn nhớ mình tên Kiều Nương, nhìn phụ thân mình một lúc lâu mới nhận ra, rồi gọi một tiếng “Phụ thân”, trên khuôn mặt trắng ngần hai dòng nước mắt tuôn rơi, do dự rồi lao vào lòng phụ thân mình.

Cả gia đình nhìn Bảo Châu, vừa khóc vừa nhìn. Lão gia Ôn gia không nhận ra ta, nhà có mười mấy tỳ nữ, ông ấy mỗi ngày đi sớm về muộn, làm sao có thời gian nhớ chúng ta? Phu nhân dù mới ngoài bốn mươi nhưng tóc đã bạc, trông như bà lão sáu mươi, nhưng bà vẫn nhận ra ta.

“Ngươi là Bảo Ngân phải không?” Đôi mắt bà đã mờ đục, giọng nói yếu ớt.

“Mẫu thân ơi, đây là tỷ tỷ của con.” Bảo Châu nắm tay ta trả lời.

“Lão gia, phu nhân thứ lỗi, nô tỳ không dám để Nhị tiểu thư dùng tên cũ nữa, sợ một ngày quan phủ tìm đến, đành phải để muội ấy mang họ của nô tỳ, đặt cho cái tên là Bảo Châu.”

“Tội gì chứ? Ôn gia ta phạm ta, chỉ còn lại một mình con bé, sự việc xảy ra đột ngột, ta không kịp tìm nơi gửi gắm nữ nhi của mình, nếu không nhờ ngươi, con bé giờ đây không biết có còn sống đứng ở đây không? Lão phu cảm ơn ngươi còn không hết, ai ngờ Ôn gia phạm tội một năm, nữ nhi ruột còn chưa đến, chỉ có một tỳ nữ trong phủ đến thăm chúng ta? Phu nhân trước đây đã trả lại giấy bán thân cho các ngươi, ngươi đã không còn là tỳ nữ của phủ nữa, làm tỷ tỷ của Kiều Nương thì có gì không được? Nếu một ngày nào đó Ôn gia có thể phục hồi, Bảo Ngân ngươi cũng sẽ là tiểu thư của phủ ta.”

Ta quan sát thái độ của lão gia, phong thái vẫn còn, có lẽ sự việc này vẫn còn cơ hội để xoay chuyển. Trong lòng ta mừng cho Bảo Châu, nhưng ta không mong muốn trở thành tiểu thư gì cả, chỉ mong được trở về làng thăm phụ mẫu, đệ đệ và muội muội, rồi tiếp tục làm một bà lái đò trên sông Biện cũng đủ tốt rồi.

002.

“Lão gia, phu nhân đừng trách đại tiểu thư. Ta đã mang Bảo Châu đến nhà họ Tô, hôm đó không gặp được nàng ấy. Nghe nói nàng ấy vừa mới sinh con, đang ở cữ. Nhà họ Tô sợ nàng bị kinh động, nên không dám nói sự thật với nàng. Thái thái bên nhà thông gia đã tìm đến ta, nói rằng nếu muốn tốt cho đại tiểu thư, thì ta tuyệt đối không được mang Bảo Châu đến cửa nhà họ nữa. Vài ngày sau đó, nhà họ Tô cũng chuyển đi Đông Đô. Dù đại tiểu thư có muốn gặp các người, nhưng núi cao nước xa, nàng ấy lại còn có tiểu hài tử, làm sao có thể trở về được chứ?”

Còn chuyện ta chưa kể, đại tiểu thư khi nghe chuyện của Ôn gia, đã khóc đến ngất xỉu hai lần. Công tử nhân lúc nàng ấy hôn mê chưa tỉnh, đã khiêng nàng ấy lên thuyền. Ai cũng là người thường, trong tình cảnh như vậy, giữ lấy mình thì có gì sai?

Nói được vài câu, thời gian đã đến, ta phải mang Bảo Châu đi. Muội ấy cứ khóc đòi mang theo người nhà, dỗ mãi mới có thể đưa đi được. Sau, Bảo Châu lại khóc hỏi sao không thấy đại ca?

Trong phủ, khắp nơi đều có truyền thuyết về đại lang quân, không chỉ sinh ra tuấn tú phong lưu, mà vào năm đội mũ (trưởng thành) đã liên tiếp đỗ đầu ba kỳ thi, là môn sinh đắc ý nhất của Tống các lão, người tương lai nhất định sẽ làm các lão đại thần … Chuyện khác ta không biết rõ, nhưng tướng mạo thì quả thật không tệ, dù sao mẫu thân của hắn cũng là một mỹ nhân hiếm thấy.

Một người như thế mà lại không rõ sống chết, mất tích không thấy tung tích. Ôn lão gia không nói một lời, ta biết không thể hỏi thêm nữa, nên dẫn Bảo Châu về nhà.

Chúng ta cùng thuê chung một căn viện ở Đông phố với người khác. Ta và Bảo Châu đến sớm, chiếm hai phòng phía đông, một phòng ở, một phòng làm bếp.

Ba gian phía tây là một gia đình bốn người sinh sống, người nam nhân thì gánh hàng rong đi khắp nơi buôn bán, còn thê tử của hắn thì ở nhà chăm con.

Nam nhân đó họ Hà, cao sáu thước, miệng nói khéo léo, Hà nương tử ít nói, nhưng lại rất tốt. Tay nghề của nàng ấy rất khéo léo, lúc rảnh rỗi thêu vài chiếc khăn tay, túi thơm cho phu quân mang đi bán.

Ta chỉ biết may quần áo và làm giày, thêu thùa thì không biết gì, lúc rảnh rỗi thì để Bảo Châu theo nàng ấy học. Bảo Châu chịu khó, học rất đàng hoàng. Mỗi ngày ta bán hết cá thịt, tôm thịt còn lại, thì phần lớn vào bụng của Bảo Châu và hai đứa con của Hà nương tử.

Ngày hôm ấy không khác gì ngày thường, chỉ là sông Biện đã đóng băng, nên sinh kế của ta phải dừng lại. Có vài khách quen thích đồ ăn vặt ta làm, nên ta ở nhà làm rồi mang đi giao. Về nhà ăn xong cơm tối, Bảo Châu đã buồn ngủ, thấy muội ấy ngủ rồi, ta lấy đế giày ra, ngồi cạnh đèn dầu khâu lại.

Lò sưởi đốt củi, khói nhiều, ta mở khe cửa sổ, chờ đến khi đi ngủ thì tắt lửa, để thoáng khí mới dám đóng lại.

Ta đã mười lăm tuổi, đi đến đâu cũng được xem là cô nương lớn rồi. Kiếm sống ở sông Biện không dễ như tưởng tượng, thỉnh thoảng có người quấy rối, huống hồ ta lại là một cô nương dẫn theo một tiểu muội?

Nhưng sông có quy củ của sông, nộp phí bảo hộ, tự nhiên có người trông coi.

Ta không sợ mệt, chỉ sợ gây phiền phức.

Khi tiếng gõ cửa vang lên, ta giật mình, dù sao ở Biện Kinh này, ta và Bảo Châu nương tựa vào nhau mà sống, ai sẽ đến tìm chúng ta khi trời đã tối?

“Ai đó?”

Ta lớn tiếng hỏi.

“Ta họ Ôn.”

Người ngoài cửa hạ thấp giọng, là giọng nam trầm trầm dễ nghe, họ Ôn? Ta chưa kịp nghĩ nhiều, liền mặc áo, xuống giường.

Người ngoài cửa lách mình vào, ta vội vàng đóng cửa lại. Người đến đứng xoay lưng, nhìn Bảo Châu đang nằm trên giường. Nhà nhỏ, trước giường chỉ có một bức rèm che, bên trong xem như phòng ngủ, bên ngoài tạm làm phòng khách, giờ bị hắn vén lên, liền có thể nhìn rõ mọi thứ.

Hắn thân hình cao lớn, khoác một chiếc áo choàng màu huyền, tóc được buộc chặt bằng một dải ngọc. Ta mơ hồ đoán ra hắn là ai, nhưng không dám hỏi nhiều, chỉ đứng chờ hắn nhìn đủ.

Ta cho thêm củi vào lò sưởi, đun một ấm nước nóng, rót cho hắn một chén trà. Trà này là loại dùng cho khách trên thuyền uống, không thể nói là ngon, nhưng cũng không tệ. Chờ đến khi hắn kéo rèm ra, dưới ánh đèn dầu mờ ảo, nhưng ta vẫn nhìn thấy hắn rõ ràng.

Người trong phủ nói rằng hắn sinh ra với vẻ ngoài tuấn tú phi phàm, ta lớn đến chừng này cũng chưa từng biết vẻ ngoài tuấn tú phi phàm là gì, nhưng hôm nay gặp lại hắn, xem như đã hiểu.

Hắn có dung mạo rất giống với phu nhân, chỉ là lông mày dày hơn và dài hơn một chút, đôi mắt đào hoa trời sinh, dù không cười cũng mang nét phong lưu đa tình, sống mũi thẳng, môi không mỏng lắm, và cằm có góc cạnh rõ ràng. Nhìn kỹ thì dưới môi có một nốt ruồi đen, nhưng người lại vô cùng lạnh lùng.

Vừa lạnh lùng lại vừa quyến rũ, từ ngữ như “mỹ nam” vẫn còn quá nông cạn để miêu tả hắn, điều quan trọng là hắn còn có làn da trắng.

Hắn không cởi áo choàng, ngồi xuống ghế và nâng chén trà ta rót. Đôi tay cũng đẹp như vậy, quả nhiên là người đẹp thì chẳng có chỗ nào xấu. Đồng tử của hắn đen, khi nhìn người thì sâu thẳm, khiến người ta cảm thấy kinh hãi.

Ta nhìn cách hắn ăn mặc, không giống như người đang trong cảnh sa cơ lỡ vận. Vì dưới áo choàng của hắn là chiếc áo bào trắng được may bằng vải gấm mây, loại vải thực sự quý hiếm, từng tấc vải đáng giá ngàn vàng. Hắn đã không phải là người sa sút, vậy tại sao không cứu những người còn lại trong Ôn gia?

Triều đình đầy rẫy những bí ẩn, ta không dám hỏi nhiều, cũng không muốn hỏi, chỉ đứng một bên chờ hắn lên tiếng.

“Không vội vàng, không nao núng, quả thật có chút can đảm, chẳng trách có thể bảo vệ được Kiều Nương chu toàn.” Giọng hắn thấp và lạnh lùng, ta không dám nhìn hắn nhiều, chỉ cúi đầu không nói gì.

“Vật này giao cho ngươi, ngày mai ngươi hãy tìm cách rời thành, đưa nó đến tay pháp sư trụ trì Pháp Huệ của chùa Kê Minh. Chuyện này liên quan lớn lao, nhất định phải hành sự cẩn thận, nếu không phải không còn cách nào khác, ta cũng sẽ không đến tìm ngươi.”

Ta vốn không muốn nhận, nhưng nghe hắn nói đến hai chữ “không còn cách nào”, trong giọng điệu mang theo sự khẩn thiết và bất đắc dĩ, cuối cùng ta cắn răng nhận lấy.

Vật đó được bọc trong vải, có hình dạng giống một quyển sách, không quá dày, khi đưa vào tay ta vẫn còn ấm từ nhiệt độ cơ thể hắn.

“Lang quân, ngàn mong ngài bảo trọng, người Ôn gia vẫn còn đang trong ngục chờ ngài đó!”

Hắn đứng dậy chuẩn bị rời đi, ta cuối cùng không đành lòng, vì Bảo Châu, vì Ôn gia, mới nói ra những lời này.

Hắn gật đầu, bỗng nhiên cười, nụ cười chói lòa như ánh dương.

“Ngươi không sợ Ôn gia và ta đều là kẻ xấu sao?”

“Ta chỉ biết Ôn gia đối tốt với ta là đủ rồi.” Nếu không có Ôn gia, ta cũng không biết mình bây giờ sẽ ra sao.

Hắn gật đầu, rồi lách mình đi mất.

Chùa Kê Minh bình thường không phải là một ngôi chùa mở cửa rộng rãi, mỗi tháng chỉ mở cửa vào mùng một và rằm, ngày mai không phải mùng một cũng không phải rằm, chỉ vào cửa thôi cũng đã là chuyện khó khăn, huống chi là gặp trụ trì.

Sáng sớm hôm sau, ta đã giao Bảo Châu cho Hà nương tử rồi lên núi Kê Lồng.

Núi Kê Lồng dù gọi là núi, nhưng thực ra cũng không hiểm trở, ta đã quen làm việc nặng nhọc, đi vài bước như vậy, tự nhiên không khó.

Đến cửa chùa, cửa lớn đóng chặt, bên trong truyền ra tiếng tụng kinh và tiếng gõ mõ.

003.

Ta gõ cửa mấy lượt mới có một tiểu sa di ra mở cửa. Cậu bé trông chỉ chừng năm, sáu tuổi, đúng vào tuổi đáng yêu, da dẻ trắng nõn. Nhìn thấy ta, cậu ta một tay chắp lại trước ngực, trịnh trọng nói: “Nữ thí chủ muốn lên hương cầu nguyện, xin hãy trở lại vào mùng một hoặc ngày rằm.”

Thấy cậu bé dễ thương, ta không kìm được muốn xoa đầu, nhưng lại sợ có điều kiêng kỵ, bèn lấy từ trong túi ra hai miếng kẹo hạt thông, vốn là thứ ta thường dùng để dỗ dành Bảo Châu, đưa cho cậu bé.

Cậu mím môi, do dự không dám nhận, ta liền nắm lấy tay cậu đặt kẹo vào lòng bàn tay.

“Ta không lên hương cũng chẳng cầu nguyện, chỉ là muốn ngươi vào báo với trụ trì rằng nữ nhi ở nhà thế tục của ngài đến tìm.”

Ta biết nói dối là không tốt, nhưng còn có cách nào khác?

Nếu không phải từng nghe lỏm được một câu chuyện trên thuyền, ta cũng không nghĩ ra được cách này.

Trụ trì Pháp Huệ trước khi xuất gia vốn là con thân vương của tiên hoàng, đến cả hoàng đế hiện nay cũng phải gọi ngài một tiếng Tiểu Vương thúc. Năm xưa khi Ngũ Vương làm loạn, trụ trì phụng chỉ đi dẹp loạn, nhưng Hoài Vương lại bắt giữ người thân trong gia đình, dùng tính mạng của họ để uy hiếp ngài rút quân. Vương phi sợ ngài bị kìm kẹp, liền mang theo con cái của gia đình phóng hỏa thiêu rụi cả vương phủ. Khi ngài đánh hạ thành, trở về nhà thì chỉ còn lại hơn trăm thi thể đã bị cháy đen, không còn nhận ra nổi.

Nghe nói có một nhũ mẫu đã mang theo Tiểu Quận chúa chạy trốn, nhưng không biết trốn đi đâu. Tìm kiếm nhiều năm không thấy, trụ trì nản lòng thoái chí, nên mới xuất gia làm tăng ở núi Kê Minh.

Nếu Tiểu Quận chúa vẫn còn sống, cũng đã tầm mười lăm, mười sáu tuổi.

Tiểu sa di còn nhỏ, tự nhiên không biết chuyện quá khứ của trụ trì, nhưng cậu bé đã vào trong tìm người.

Đã lớn gan đến đây, cũng không cảm thấy sợ hãi nữa. Còn việc giả làm Quận chúa, nghe nói năm xưa có nhiều gia đình cũng mang con cái đến vương phủ nhận thân, dù không phải, cũng không thấy ai bị chém đầu.

Vương gia giờ đã là trụ trì, chắc hẳn sẽ không tạo thêm sát nghiệp.

Không lâu sau, một vị hòa thượng mập mạp bước ra. Ông ta bụng phệ tròn, mũi to, đầu mũi còn đỏ, hai gò má phúng phính, nếu trên người khác sẽ là thịt thừa, nhưng trên người ông ta lại chỉ làm cho người ta cảm thấy phúc hậu thân thiện.

Ông ta nhìn ta từ trên xuống dưới, cười tít mắt hỏi: “Nữ thí chủ làm sao khẳng định được ngươi là nữ nhi của trụ trì nhà ta?”

Ta vốn không phải, tự nhiên cũng không dám khẳng định.

“Chỉ là đoán thôi, nếu lời đồn dân gian là thật, ta cũng đâu có gì không đúng! Còn thật giả ra sao, chỉ có gặp trụ trì mới biết được, dù sao là nữ nhi hay không, chỉ có ngài ấy mới biết.”

Dù thế nào, gặp được người là được rồi.

Giả mà như thật, thật mà như giả, vị hòa thượng mập nghiêng đầu nhìn tiểu sa di đang phồng mang trợn má, bảo cậu bé đưa tay ra. Tiểu sa di rõ ràng còn non nớt, ngoan ngoãn đưa tay ra. Vị hòa thượng béo cầm lấy, bẻ luôn miếng kẹo còn lại nhét vào miệng mình, rồi xoa bụng quay trở vào.

Tiểu sa di đứng ngẩn người ra, ta nhìn cậu bé, bất đắc dĩ vỗ vỗ vai nhỏ của cậu.

“Ngươi tên gì?”

“Minh Kính.”

Cậu ta buồn bã mặt mày, sắp khóc rồi.

“Minh Kính à! Nghe A tỷ nói này, mỗi lần sư phụ ngươi ngủ say, ngươi hãy gõ cửa phòng ông ta, nếu ông ta giành đồ ăn của ngươi, thì ngươi quấy rầy giấc mơ của ông ta. Nếu vẫn không được, trước khi ăn ngươi nhổ hai cái nước bọt vào đồ ăn, xem ông ta có còn nuốt nổi không. Lần này coi như là tiện nghi cho ông ta, lần sau A tỷ đến, nhất định sẽ mang nhiều kẹo cho ngươi ăn.”

Ta ngồi xuống trước mặt cậu, dỗ dành nói.

Chắc hẳn Minh Kính chưa từng nghe những lời nói tà ác như vậy, nhất thời ngẩn người ra, chỉ mở to đôi mắt tròn xoe nhìn ta.

Sư phụ của cậu đến rất nhanh, đưa ta vào trong, Minh Kính theo sát bên cạnh, với vẻ mặt như muốn nói gì đó nhưng lại không dám. Ta đắc ý cười với cậu, có lẽ cậu nghĩ ta thật lợi hại?

Trụ trì Pháp Huệ vừa giảng xong kinh, đang chờ ta dưới gốc cây bồ đề ở hậu viện. Trời đông giá rét, nhưng chỉ riêng cây này vẫn xanh tươi như mới.

Nếu không phải vì cái đầu trọc và bộ y phục cà sa, ai có thể nghĩ rằng ngài là một hòa thượng?

Dù gì thì ngài cũng có vẻ ngoài quá đỗi tuấn tú. Ngài từng ra chiến trường, nhưng trên người không có chút khí chất binh đao nào, mà lại mang vẻ nho nhã, thông minh, đến mức khó mà đoán được tuổi thật của ngài.

Mọi người đều lui ra hết, ngài đứng dưới gốc cây, tay cầm chuỗi tràng hạt, nhìn từ xa trông như một bức tranh.

“Dân nữ có tội, mong trụ trì thứ lỗi. Hôm nay nói dối cũng là bất đắc dĩ.”

Ta cúi người hành lễ xin lỗi, có lẽ vì đã quen với sự thất vọng, nên biểu cảm của ngài không có gì thay đổi. Ta lấy cái bọc trên vai xuống đưa cho ngài, ngài chỉ nhìn thoáng qua rồi đóng lại.

“Ngươi có tội gì đâu? Nữ nhi nhỏ bé mà đã có dũng có mưu, quả là hiếm có. Như Sơ có dặn ngươi điều gì không?”

Giọng nói của ngài trong trẻo, dễ nghe, từng lời nói ra đều khiến người ta cảm thấy vui vẻ.

“Không có.” Như Sơ hẳn là tên chữ của Ôn đại lang quân.

“Nếu đã tìm đến đây, chắc hẳn là gặp phải khó khăn. Sau này, nếu hắn có chuyện gì, ngươi có thể đến tìm ta bất cứ lúc nào. Nữ thí chủ tên là gì? Làm nghề gì?”

“Bảo Ngân, Trần Bảo Ngân. Ta ở Biện Hà làm nghề bán rượu trên thuyền.”

“Cô nương tốt, đi đi!”

Từ lần đó, đã vội vã mấy tháng trôi qua, Biện Hà đã tan băng, việc kinh doanh của ta lại càng ngày càng tốt.

Ngày mồng ba tháng ba nghe nói Trưởng Công chúa sẽ du ngoạn trên sông, Bảo Châu nhất quyết đòi đi xem, thuyền đành phải dừng lại một ngày, ta liền dẫn Bảo Châu đi sớm để xem.

Trưởng Công chúa là tỷ tỷ ruột của đương kim Hoàng thượng, phụ hoàng yêu thương nàng, gả nàng đến vùng giàu có của Biện Kinh, còn phong Biện Kinh làm lãnh địa cho nàng.

Có rất nhiều lời đồn về Trưởng Công chúa, nghe nói phò mã nuôi một tiểu thiếp, nàng liền sai người thiến phò mã, sau đó lại nuôi nhiều mỹ nam làm sủng, ngày ngày vui vẻ hưởng lạc.

Chỉ cần nàng vừa ý ai, thì chẳng ai có thể thoát khỏi. Vì vậy ở Biện Kinh, hiếm khi nghe nói nam nhân nhà nào tuấn tú, đến tuổi đi học đều bị đưa đi xa đến học viện, chẳng mấy khi về nhà, trừ phi có ý định bám víu vào thế lực, tự mình muốn dâng lên.

Lời đồn về Công chúa rất nhiều, ai cũng không biết thực hư ra sao, nhưng nghe nói ngay cả đương kim Thánh thượng cũng phải nhường nàng ba phần, có thể thấy quyền thế của nàng lớn đến mức nào.

Chúng ta đến sớm, tự nhiên chiếm được vị trí tốt nhất trên cầu.

Trưởng Công chúa xuất du trận thế thật lớn, chỉ riêng thuyền hoa đã có ba chiếc, và đều cao ba tầng. Trưởng Công chúa rất thích lụa trắng, chỉ cần nhìn chiếc thuyền được che phủ bởi lớp lụa trắng ấy, thì chắc chắn nàng ở trên đó.

Chiếc thuyền ở giữa chính là của nàng, Bảo Châu chăm chú nhìn, ríu rít đến ồn ào, trên thuyền ngoài những cung nữ, thái giám phục vụ, còn có rất nhiều nam tử trẻ tuổi tuấn tú đủ mọi loại người. Xem ra chuyện Công chúa nuôi sủng nam không phải là lời đồn vô căn cứ, nhưng lại không thấy Công chúa đâu.

Đang nhìn chiếc thuyền hoa ngày càng tiến đến gần, thì một cơn gió thổi qua, làm tung lớp lụa trắng lên.

“Đại ca, là đại ca!” Bảo Châu chỉ vào chiếc thuyền hoa, ta giật mình, vội đưa tay bịt miệng nàng lại, đợi khi ta quay đầu nhìn lại, thì lớp lụa tung lên đã gần như rơi xuống.

Nhưng có một số người dù chỉ liếc qua một lần, giữa vạn người, ngươi vẫn có thể nhận ra ngay lập tức.

Công chúa mặc một bộ lụa trắng, đôi chân dài ẩn hiện, trán vẽ hoa điền, đôi mắt đỏ và đôi môi hơi hé mở đều rõ ràng như hiện ra trước mắt.

Còn hắn, ở dưới thân Công chúa, để lộ lồng ngực trắng nõn, ta thậm chí còn nhìn rõ lông mày nhíu lại và hàng mi dài run rẩy của hắn. Công chúa định chạm vào môi hắn, hắn nghiêng đầu né tránh, ngay khoảnh khắc đó, hắn mở mắt ra, bốn mắt chúng ta giao nhau.

Thời gian như vừa dài lại vừa ngắn, dài đến mức ta có thể nhìn rõ nỗi xấu hổ và căm phẫn trong mắt hắn, ngắn đến mức ta không kịp nhận ra nốt ruồi nhỏ bên môi hắn.

Một trang trạng nguyên, nhưng lại phải chịu đựng cảnh phải phục vụ dưới thân Trưởng Công chúa.

Điều này chắc hẳn còn đau khổ hơn cả cái chết đối với hắn, cái gọi là phong cốt của văn nhân thà gãy chứ không chịu uốn mình, người mà ta thấy hôm nay hoàn toàn khác hẳn với người đêm đó. Hắn có thể chịu đựng nỗi nhục này, hẳn là vì còn việc quan trọng hơn cả mạng sống của hắn.

Ta tin hắn, ta nghĩ vậy.


Bản dịch của Đậu Mơ.
Vui lòng không copy hoặc re-post ạ. Tớ xin chân thành cám ơn!

Bình luận về bài viết này